Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân)
Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân) bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12
Tác giả
Tác giả Nguyễn Tuân
1. Tiểu sử
- Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, quê ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên nôm là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
- Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung Nam Định (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay, tiền thân của trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929).
- Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì đi qua biên giới tới Thái Lan không có giấy phép.
- Sau khi ra tù, ông bắt đầu sự nghiệp viết lách của mình.
- Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi...
- Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa và gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.
- Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.
- Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam.
2. Sự nghiệp văn học
a. Tác phẩm chính
- Vang bóng một thời (1940), Tùy bút sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), ...
b. Phong cách nghệ thuật
- Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
- Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông":
+ Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mỹ thuật.
+ Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi là Vang bóng một thời.
+ Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch". Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội......
+ Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình.
+ Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam.
- Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng:
+ Ông vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở cả nhân dân đại chúng.
+ Còn giọng khinh bạc thì chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội.
→ Với phong cách rất riêng của mình, có thể nói Nguyễn Tuân chính là hiện thân của cái định nghĩa về người nghệ sĩ. Đối với ông, văn chương nghệ thuật phải có phong cách độc đáo, mới lạ.
Sơ đồ tư duy Tác giả Nguyễn Tuân
Tác giả Nguyễn Tuân - Trên đỉnh non Tản
- I. Tiểu sử
- Năm sinh - Năm mất: 1910 - 1987
- Quê quán: Hà Nội
- Gia đình: Xuất thân gia đình công chức, có truyền thống văn học.
- Sự nghiệp:
- Trước Cách mạng: Nhà văn hiện đại, nổi tiếng với phong cách sống độc đáo, phóng khoáng.
- Sau Cách mạng: Hết lòng phục vụ kháng chiến, gắn bó với đồng bào Tây Bắc.
- II. Phong cách nghệ thuật
- Đặc điểm chung:
- Ngôn ngữ: Sáng tạo, giàu chất thơ, đậm tính cá nhân. Sử dụng nhiều từ Hán Việt, tiếng địa phương.
- Kết cấu: Đa dạng, linh hoạt, thường sử dụng yếu tố trữ tình, suy tư.
- Chủ đề: Vẻ đẹp của con người, thiên nhiên, cuộc sống; sự đối lập giữa đời sống vật chất và tinh thần.
- Các giai đoạn sáng tác:
- Giai đoạn 1 (1932-1945): Văn học "lãng mạn" với các tác phẩm như "Vợ chồng A Phủ", "Đường về hang Cả".
- Giai đoạn 2 (1945-1954): Văn học "chính luận" với các tác phẩm như "Gió từ Himalaya", "Nhật ký hành trình".
- Giai đoạn 3 (1954-1987): Văn học "tự sự" với các tác phẩm như "Trên đỉnh non Tản", "Chuyện kể làng Song".
- III. Tác phẩm "Trên đỉnh non Tản"
- Hoàn cảnh sáng tác: Viết năm 1966, sau chuyến đi thực tế lên vùng cao Tây Bắc.
- Thể loại: Ký
- Nội dung chính:
- Vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ của núi non Tây Bắc.
- Tình cảm gắn bó, yêu mến của tác giả với vùng đất và con người Tây Bắc.
- Sự suy ngẫm về văn hóa, lịch sử, và giá trị tinh thần của dân tộc.
- Giá trị nghệ thuật:
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc (so sánh, ẩn dụ, nhân hóa...).
- Văn phong giàu cảm xúc, mang đậm chất trữ tình.
- Bố cục chặt chẽ, hợp lý.
Kết luận: Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, với phong cách sáng tác độc đáo và những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học.
Tác phẩm
Tác phẩm Trên đỉnh non Tản
1. Xuất xứ
Trên đỉnh non Tản được in trong tập truyện Vang bóng một thời (1940).
2. Tóm tắt
Một làng thợ mộc sống dưới chân núi Tản Viên. Năm đến mười năm sẽ có một vị thần (Sơn Thần) xuống núi non Tản một lần để tìm một toán thợ sửa sang lại ngôi đền trên đỉnh ngọn núi cao nhất. Nhóm thợ không được phép kể lại mọi chuyện nếu không sẽ nhận kết thúc bi thảm.
Sơ đồ tư duy Trên đỉnh non Tản
Tác phẩm Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân)
- I. Bối cảnh và xuất xứ
- Hoàn cảnh sáng tác: 1966-1967, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt.
- Xuất xứ: In trong tập truyện "Dấu chân người lính".
- II. Thể loại
- Truyện ngắn
- Kết hợp giữa miêu tả và kể chuyện, yếu tố ký và trữ tình.
- III. Nội dung chính
- Vẻ đẹp hùng vĩ, thiêng liêng của núi Tản và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.
- Tình yêu và lòng kính trọng của người lính đối với vẻ đẹp quê hương, đất nước.
- Thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa người lính với thiên nhiên, với non sông Tổ quốc.
- IV. Nghệ thuật
- Miêu tả thiên nhiên:
- Sử dụng nhiều từ ngữ gợi hình, gợi cảm, giàu chất thơ.
- Miêu tả chi tiết, tinh tế, đặc biệt chú trọng đến ánh sáng và màu sắc.
- Cảm xúc chủ quan hòa quyện vào miêu tả khách quan.
- Miêu tả nhân vật:
- Thông qua hành động, lời nói, suy nghĩ và cảm xúc.
- Chú trọng miêu tả tâm trạng, tình cảm của nhân vật.
- Ngôn ngữ:
- Văn phong Nguyễn Tuân: tinh tế, giàu chất thơ, mang đậm phong cách cá nhân.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa...
- Bố cục:
- Mở đầu: Giới thiệu cảnh núi Tản.
- Giữa: Miêu tả hành trình lên đỉnh núi và cảm xúc của người lính.
- Kết thúc: Cảm xúc bồi hồi, xúc động khi ngắm nhìn toàn cảnh từ trên đỉnh núi.
- Miêu tả thiên nhiên:
- V. Giá trị tác phẩm
- Khẳng định vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên Việt Nam.
- Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của người lính.
- Góp phần làm giàu thêm vốn văn học Việt Nam về đề tài thiên nhiên và con người.